Kỳ 2: Tung hoành nơi chiến trận
Đó, sau cái màn... “đầu trộm đuôi cướp” rồi tắm kênh thỏa thích như đã kể, đội quân ô hợp vừa bò vừa người ban nãy lại tiếp tục lên đường. Đi một đỗi khoảng 3 cây số nữa là tới rẫy, trên rẫy là dông, là núi. Địa bàn hoạt động chính là ở chỗ đó đó.
Vừa tới rẫy, lũ bò được tháo mõm cho, tha hồ mà nhỡn nhơ gặm cỏ. Tội nghiệp bầy bò! Mùa nắng thì đồng khô cỏ cháy, cỏ lụi hết trơn, mà bầy bò gần trăm con ngày nào cũng tàn sát thì cỏ nào mọc cho kịp mà ăn? Còn mùa mưa, người ta trồng khoai lang, khoai mì gần hết rẫy. Lúc này thường lùa bò lên dông ăn lá cây rừng hoặc thả ra đồng ruộng đã hết vụ hè thu. Cỏ rác thất thường như vậy nên bầy bò có mùa mập mùa ốm. Phàm đã chăn bò thì cũng quan tâm đến sự no đói, mập ốm, của bầy bò lắm. Song, dù trong bất cứ trong hoàn cảnh nào, cái sự nghiệp chăn bò cũng không lúc nào kém vui. Chỉ cần đến nơi tập kích rồi, bò cha, bò mẹ, bò anh, bò chị chúi mũi kiếm ăn rồi, bò nhi đồng nhởn nhơ hái hoa đuổi bướm rồi, thì chủ bò cũng tha hồ bày binh bố trận.
Lúc còn nắng thì kiếm bóng mát, dăng cả hàng bày mấy trò hiền hiền kiểu như ô quan, đánh bốc, đánh nẻ, hoặc buồn buồn thì kiếm mấy cái mả (mộ) xây đẹp đẽ, rộng rãi mà quất một giấc tới chiều. Dân chăn bò rẫy thì lớn nhỏ chẳng đứa nào sợ mả. Bị rẫy cũng là nghĩa địa. Ở rẫy, mã xếp trùng trùng lớp lớp, xây có, đắp đất có, to có, nhỏ có, đẹp có, xấu có... không trốn đi đâu mà không gặp mả cả. Có những cái mả cứ mỗi năm mỗi lớn. Nghe đồn đó là mả của những người bị cọp bắt, rất thiêng. Cái mả càng lớn thì con cháu của người nằm dưới đất làm ăn càng phát đạt. Ai phá hoại nó cũng bị cọp bắt. Bọn chăn bò có lì lợm cỡ nào cũng không dám mon men tới mấy cái mả đó. Còn lại, mả nào, miễn là sạch sẽ thì cũng có thể trở thành nơi ăn chốn… ngủ của dân chăn bò được hết.
Đặc biệt là những lần thả bò ngày, mấy cái mả chính là… căn cứ địa để vừa trốn nắng, vừa là chỗ ăn cơm chung của cả hội. Bình thường, cơm nhà nào nhà nấy ăn, nhưng đến khi thả bò ngày thì mỗi đứa một gô cơm với những món đồ ăn khác nhau. Tập trung lại ăn chung, ngon hết sẩy, dù chỉ là mấy con cá nhỏ, vài lát thịt kho chung với dừa hay dưa cà mắm muối mà thôi.
Ăn xong, cứ thế mà xí phần mấy cái mả, bẻ lá cây quét dọn sạch sẽ xong, đặt lưng nằm xuống, hai ba đứa quay đầu vô nhau rù rì rủ rỉ một hồi, gió mát hiu hiu, đánh một giấc ngon lành tới chiều.
Tỉnh dậy, việc đầu tiên là kiểm tra xem mấy con bò đâu rồi, có kéo nhau đi ăn lang, ăn lúa của người ta không, tập hợp nó về địa phận an toàn, rồi là chạy nhảy, đuổi bắt nhau chí chóe… Chơi cho tới khi mồ hôi mồ kê túa ra nhễ nhại, mặt đỏ phừng phừng, thở cả ra tai thì nghỉ, lên suối lấy nước uống. Đang mệt mà uống mấy ngụm nước suối chảy từ trong khe đá trên núi ra, trong vắt, mát lạnh và ngọt lành mới đã khát làm sao!
Ta nói, "ăn gạo chợ uống nước sông" còn đỡ! Dân chăn bò toàn ăn trái cây rừng, uống nước suối không hà, mà đứa nào đứa nấy chắc nụi, chả mấy khi ốm vặt.
Nói trái cây rừng mới nhớ! Ai khoe “rừng vàng biển bạc" đâu hỏng thấy, chỉ thấy cái quê hương “gối đầu lên đá vách, ngút Trường Sơn sương sớm phủ lưng đèo” của Sóc có nhiều loại cây rừng rất ngon. Cứ chiều chiều, chạy nhảy chán, đói bụng, cả lũ lại tản đi hái trái cây. Khi thì những chùm Chùm chày đỏ mọng, khi thì những trái Móng khiểng vàng ươm, ngọt lịm, thơm lừng, lúc lại những trái dứa rừng đỏ au, đầy gai mịn nhưng vị ngọt rất thanh hay ít nhánh trâm rừng xanh xanh tim tím...
Đến mùa mưa, hễ vào đến rẫy là cả lũ lùa bò thẳng lên dông, hái chà là. Cứ sau một cơn mưa, chà là thi nhau chín, nhiều đến nỗi không kịp hái. Từng buồng chà là đen mọng oằn ra khỏi những cành lá đầy gai, trĩu xuống đầy mời gọi. Bọn Sóc chỉ việc kê nón vào bụi cây, lấy roi chăn bò đập nhẹ lên buồng là trái chín rụng xuống lộp độp. Trái xanh và trái hường ở lại, hôm sau lại đi hái tiếp. Nghe thì dễ vậy, nhưng hái chà là rất dễ bị gai đâm, bị đầu mỗi lá tạo thành một gai nhọn, còn gai trên bẹ lá thì chi chít. Thành ra, đến mùa chà là, chí ít Sóc đây cũng phải... sống chung với vài cái gai chà là trên tay. Nhức lắm đó!
Chịu khó rảo một hồi, cả bọn góp lại cũng được lưng nón lá với đủ loại trái cây. Mười mấy đứa thi nhau lên tảng đá to nhất, vừa ngồi vắt vẻo ăn trái cây rừng, vừa chuyện trò rôm rả. Ăn xong, lưỡi đứa nào cũng đỏ loét, xanh lè hay đen thui là chuyện... phình thường. Ăn đã đời, chiều về đứa nào cũng có một ít để mang về cho anh, chị, em…
Nhưng nói thiệt, trong các loại trái cây ở rừng, Sóc thích nhất trái sim. Mùa sim chín, chọn lấy những quả sim tím mọng, căng tròn, cắn thử một trái, vị ngọt tan ra nơi đầu lưỡi, mùi thơm dễ chịu lan vào mũi… Chao ơi, nhớ mà thèm!
Chiều mơn man gió, đứng giữa đồi sim, nhìn xuống bạt ngàn đồng ruộng xanh um, thấy lòng mình trải rộng. Nhìn về phía xóm làng xa tít, biết rằng nơi đó có nhà mình, nơi đó có mẹ mình giờ này chắc đang lúi húi sau hè hoặc đang khom lưng nhổ cỏ ngoài ruộng, lòng chợt xốn xang, bồi hồi khó tả...
Miên man một hồi, cái tâm hồn hay "treo ngược cành cây" của Sóc lại nhớ đến câu hát tái tê lòng của sơn nữ Phà Ca:
Chao ơi! Phà Ca! Son sắt chi, thủy chung chi mà khổ vậy, Phà Ca?
Lại nhớ cái ông Hữu Loan với những "chiều hành quân qua những đồi sim, những đồi sim dài trong chiều không hết. Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt..."
Nghĩ cũng ngộ thiệt, người ta hành quân qua đồi sim, nhớ về người “em gái” ngày xưa yêu màu hoa sim tím, nay đã “không được nghe em nói, không nhìn được một lần” thì chiều tím trên đồi sim trở thành “chiều hoang biền biệt” còn có lý. Đằng này, buổi chiều trên đồi sim ngập nắng của Sóc đây, có nỗi chia ly "biền biệt" nào đâu, sao cũng se lòng quá đỗi?
Ôi! Rừng núi, cỏ cây… ai nói vô tình?
Mê hoa sim vậy đó, đứng ngắm cả chiều quên trời quên đất, báo hại chừng về tả hỏa đi tìm chẳng thấy bò đâu. Nhiều phen tưởng đâu mất bò rồi, khóc ra tiếng Miêng! may mà tìm được, chứ không, dám bỏ nhà đi luôn quá!
Đó là chăn bò nhằm mùa có trái cây. Nhưng trái cây đâu phải lúc nào cũng sẵn? Nhiều lúc, chơi mệt quá, mà chả có quái gì bỏ vào bụng, thế là, máu giang hồ trộm cướp lại nổi lên. Cả đám nhào vô moi trộm củ lang, củ mì của người ta. Moi xong đắp đất lại đàng hoàng, bố ai biết được? Suỵt! Nói nhỏ nghe, cái sự phá hoại đó chỉ ưu ái dành tặng người xã khác. Lang, lúa xã mình thì cấm có đụng vào. (Nói vậy chứ cũng có bữa, khát nước, hái trộm dưa người ta, tưởng dưa của xã khác, ai ngờ của ngay ông hàng xóm sát nhà, báo hại bữa đó bị mắng vốn, về nhà bị ăn một trận đòn thừa sống thiếu chết của Ba).
Trở lại chuyện moi trộm củ. Phân công lao động rất rõ ràng. Nhóm này đi moi trộm củ thì nhóm kia đi kiếm củi. Khi củ đã đào xong thì củi cũng sẵn sàng. Đốt đống lửa to, cả bọn vây quanh, chốc chốc có đứa chờ không nổi lại lấy cây khều khều coi có củ nào chín chưa. Củ nào vừa kịp chín thì bị tóm cổ ngay. Lần này cũng cướp bóc, nhưng “ăn tươi” thì có chớ “nuốt sống” thì tuyệt nhiên không à nghen! Củ chín rồi, cái nào cái nấy đen thui thùi lùi nhưng thơm lựng. Cả bọn vừa thổi vừa ăn vừa ngon lành. Ăn đã, còn chọc ghẹo, ném nhau ầm ầm. Rốt cuộc, ăn xong, tay chân mặt mũi đứa nào cũng lem luốc thấy ớn. Nhưng ăn vậy mới ngon. Nói thiệt, hồi đó nghèo, nhà đứa nào chả có cả đống củ để độn cơm! Nhưng mà của nhà, ăn đàng hoàng trên mâm trên bát nó đâu có sướng bằng cái của ăn trộm, mà lại ăn có đồng bọn, có chiến hữu với nhau…
Ậy, thế nên chuyện ăn trộm khoai lang là thường. Nhưng cảnh này tuyệt nhất phải là lúc trời mưa. Ta nói, chiều mưa giông, núi rừng u ám nhìn não ruột, từng sợi mưa rơi hoài rơi hoài suốt cả chiều cho nên mặc áo mưa kiểu gì rồi cũng ướt. Cái lạnh thấm vào da, báo hại da gà da vịt nổi đầy mình, hai hàm răng va "hỏi thăm sức khỏe" nhau liên tục… Đó, đang cái cảnh đó mà kiếm chỗ nhen lên một đống lửa, khói bay là đà… Nhìn thôi, đã ấm một phần. Cả bọn ngồi thu lu sát nhau vừa chờ củ chín, vừa hơ tay vô lửa, áp vào má cho ấm, xuýt xuýt xoa xoa một hồi rồi chia nhau xực cái đống củ đang vừa chín tới…
Thỉnh thoảng bọn con trai bắn được con chim hay con gì trong rừng, cũng cho luôn vô đống lửa, rồi chia nhau mỗi đứa một chút gọi là. Vậy mà ngon ác liệt.
Đó, chăn bò rầy là vậy đó. Đến khi rẫy hết cỏ, mà đồng lại đang mùa gặt, thì cả đám lại xua bò ra đồng. Thả bò đồng thìlực lượng mỏng hơn ở rẫy, bị ruộng đồng cứ ôm lấy xóm làng, cho nên, đứa nào cũng chỉ cần thả bò ra cánh đồng trước hoặc sau nhà là có thể tha hồ tác chiến, khỏi cần tập hợp cả binh chủng.
Thả bò đồng thì hoặc trèo dừa hái lá làm châu chấu, hoặc đi kiếm mù u hái làm bi, không có thì đào đất sét, viên tròn, cẩn thận đặt lên miếng lá phơi khô rồi nung chín, làm bi bắn chơi. Rồi be mương tát cá, chụp ếch, bắt cua, bắt rắn, bắt… đĩa chơi. (Nói là bắt chơi chứ có khi cua bắt được mang về cũng đủ cho mẹ nấu một nồi canh ngon lành chứ không ít.)
Không phá làng phá xóm như vậy thì cũng lui cui cắt giấy vở làm diều thả, đá banh với lũ con trai hoặc lấy rạ làm con cúi đốt chơi.
Được cái này mất cái kia. Thả bò đồng không hái sim, hái chà là nhưng bù lại, được thỏa thuê ngồi ngắm ruộng đồng, thôn xóm mình kỹ hơn. Cái cảm giác đứng ở xa nhìn về mái nhà mình, thấy mẹ, thấy ba, thấy anh chị đi ra đi vào thích lắm! Mùa gặt, lại được hít đầy mũi cái mùi lúa mới thơm lừng, mùi nồng nồng ngòn ngọt của gốc rạ vừa cắt, còn ứa nhựa và mùi gây gây của cỏ.
Chiều về, khi bếp các nhà đều đỏ lửa, lại có thể ngắm những làn khói lam chiều là đà sau từng chái bếp. Ấm lòng đến lạ!
Cả quãng đời tuổi thơ cầm roi đi sau đuôi bò, kỷ niệm đó, kể đến Tết Công-gô dễ gì đã hết. Cái đám bạn chăn bò cũng tan tác từ lâu bởi “chúng tôi lớn lên, mỗi người mỗi ngã”. Mỗi đứa một số phận. Riêng Sóc đã lỡ theo cái nghiệp sách đèn, cũng bon chen “dan díu với thị thành”, bán chữ kiếm cơm cho qua ngày đoạn tháng… Cái nghiệp viết lách lắm vui nhiều buồn, không đến đỗi tẻ nhạt nhưng lắm lúc chẳng đủ an ủi nỗi thiếu hụt trong tâm hồn, chẳng bù đắp được những ngày xưa đã mất.
Nhiều đêm, giữa lòng phố thị, lại thao thức nhớ cái ngày xưa quá đỗi!
Những gương mặt lem luốc ngày nào, giờ ở đâu? Hạnh phúc, cao sang hay lam lũ, nhọc nhằn?
Đồi sim ngày xưa, có lạt phai sắc tím? Có cô bé nào đứng ngây ngất bởi “say” hoa?
Xóm làng xưa, mái nhà xưa… chắc cũng khác nhiều!
Chao ơi, tuổi thơ ơi! Đồng bọn ơi! Biết đâu tìm lại, biết đâu mà tìm?
| Quê Hương Tuổi Thơ Tôi Sáng tác: Từ Huy - Thể hiện: Cao Huy Thế |